Đầu xuân, chẳng hẹn mà gặp, người Việt, cho
dù thường ngày làm nghề gì đi nữa, dù có vô tâm đến mấy đi nữa, không mấy ai
không đi lễ đình, chùa. Đất vua, chùa làng. Các cụ vẫn bảo thế. Sau nghi thức
lễ bái, ta thường dừng chân trước sân chùa vãn cảnh. Bỗng nhiên, trong tiềm
thức ta bật ra: "Trông cứ như không phải chùa làng mình ấy...".
 |
|
Những khung cảnh di tích hoà với
thiên nhiên như thế này ngày càng ít dần.
|
|
Vẫn ngôi chùa
làng đấy chứ. Nhưng bỗng thấy có gì khang khác. Bỗng đâu có đôi sư tử to tướng
ngồi canh hai bên cổng chùa. Lạ quá mà quen quá. Lạ vì chẳng hiểu sao nó nằm
đó. Quen, là vì dáng dữ dằn của con sư tử này thường thấy trên phim cổ trang
của nước ngoài. Đình chùa ngày nay khang trang hơn. Đó là kết quả của sự phát
triển kinh tế - xã hội. Làm ăn phát đạt, người ta công đức vào đền chùa ngày
càng nhiều. Công đức nhiều, ắt sinh tu sửa lắm. Mừng, vì không còn cảnh đình
chùa dột nát. Trước, từng có những di tích nát đến độ hễ mưa là người ta phải
đi lấy nón... đội cho tượng. Nay, trào lưu xã hội hoá. Nhất hô, vạn ủng. Chỉ
cần xin được cái dấu đỏ của nhà nước, là có người hưng công tu sửa tức thì.
Những ngôi chùa
cũ được hạ xuống "trùng tu". Hôm dựng lên, thấy nó... là lạ. Hỏi ra
thì người ta bảo: Người bỏ tiền công đức muốn thế. Người ta muốn có "dấu
ấn". Còn nữa, những người trông nom di tích, cũng muốn có "dấn
ấn" riêng cho "giai đoạn của mình. Cái sự rất thường diễn ra, là ít
hôm sau, có đoàn kiểm tra ngành văn hoá đến. Trung tu sai nguyên gốc, kết luận
được đưa ra thế. Kết luận là một chuyện. Sửa là chuyện khác. Đình chùa thờ
Phật, thờ thánh cả đấy. Xây dựng sai ư? Đố anh nào dám vác búa đập để rồi sau
đó xây lại? Chốn linh thiêng mà. Cái sai, nghiễm nhiên thành cái đúng.
Ngôi chùa mấy
trăm năm, được trùng tu, thành mới đét. Có người bảo, ta quen dùng "hàng
nhái" rồi. Nay "hàng nhái" lan sang cả tâm linh.
Người ta bảo
nhân lực cho trùng tu di tích thiếu và yếu. Không sai. Nhưng chỉ cần tuân thủ
những nguyên tắc cơ bản nhất trong tu bổ, thì kết quả đã khác. Song, phong trào
làm đồ "giả cổ", cứ ngày một nở rộ. Thậm chí giả cổ trơ trẽn. Xi
măng, bê tông cốt thép được dùng nhiều hơn. Những xà, những đố, những bức chạm
khắc trên nóc đình, nóc chùa là những tuyệt tác nghệ thuật. Chỉ một góc nhỏ mục
do nước mưa, người ta thay cả cụm. May ra thì được một cấu kiện mới chạm trổ,
thường là thô kệch. Bi đát hơn, là bằng những khúc gỗ bào trơn, đóng bén.
Mỗi khi trùng
tu, thấy đình chùa bỗng nhiên... cao to hơn thật. Nguy hơn, nó bắt đầu thành
một quan niệm phổ biến. Có nơi, sau khi tu bổ xong, người dân thất vọng ra mặt
khi thấy ngôi chùa vẫn... cũ, không to đẹp hơn như họ hy vọng. Giao lưu quốc tế
ngày một phát triển. Ngợp khi nhìn thấy một số công trình to lớn của nước
ngoài, khiến không ít người tự ti về văn hoá. Thế rồi những hệ giá trị bị thay
đổi, người ta đánh giá về văn hoá, qua cái hình thức to cao.
Nhưng văn hoá
Việt đâu phải bề nổi? Văn hoá Việt đâu chỉ đẹp trong từng nét chạm khắc, những
hình khối tạo tác tinh tế, tài hoa. Nó còn đẹp ở tính triết mỹ tầng tầng lớp
lớp ẩn bên trong những đường nét ấy. "Trùng tu" nay được một số người
dí dỏm gọi là phong trào "chùa to, tượng lớn, chuông nhiều".
Chùa to tượng
lớn để ghi kỷ lục cũng có điều hay. Song nó không phải tư duy của dân tộc. Các
công trình xưa dẫu lớn, vẫn ẩn ẩn hiện hiện giữa tùng lâm cổ thụ. Bất cứ công
trình nào của người Việt xưa, đều lấy sự hài hoà với thiên nhiên làm đầu. Cái
được, e không bù lại được cái mất. Cái mất, không chỉ ở di sản nhìn thấy được.
Mà là tâm thức, là quan niệm triết học, mỹ học của cả một dân tộc...
NDO |