Du lịch Việt Nam đang tiếp tục tăng trưởng cao. Năm 2011, ngành du lịch
cán đích 6 triệu khách, vượt xa mục tiêu 5,3 triệu khách. Thế nhưng,
nếu khẳng định về sự tăng trưởng bền vững, nhiều người sẽ dè dặt. Một
trong những thế yếu cơ bản của chúng ta hiện nay chính là môi trường
văn hoá trong du lịch.

Hàng rong đeo bám khách du lịch là cảnh thường xuyên bắt gặp trên đường phố Hà Nội.
|
Du lịch Việt Nam đang tiếp tục tăng trưởng cao. Năm 2011, ngành du lịch
cán đích 6 triệu khách, vượt xa mục tiêu 5,3 triệu khách. Thế nhưng,
nếu khẳng định về sự tăng trưởng bền vững, nhiều người sẽ dè dặt. Một
trong những thế yếu cơ bản của chúng ta hiện nay chính là môi trường
văn hoá trong du lịch.
Việt
Nam có những bãi biển thuộc hàng đẹp nhất hành tinh như Nha Trang, Mũi
Né, Mỹ Khê... Vịnh Hạ Long đã lọt vào danh sách kỳ quan thiên nhiên thế
giới. Cao nguyên đá Đồng Văn cũng trở thành Di sản địa chất.
Không
tính đến những di sản đã được công nhận tầm thế giới, những di sản văn
hoá khác của Việt Nam cũng là một kho báu, đó là hệ thống di tích, là
những loại hình nghệ thuật dân gian của cộng đồng 54 dân tộc... Đó là
những nền tảng cơ bản để chúng ta phát triển ngành công nghiệp không
khói.
Dự thảo "Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn đến 2030" của Tổng cục Du lịch, năm 2020 sẽ đón được
11-12 triệu lượt khách quốc tế, phục vụ 45-48 triệu lượt khách nội địa,
doanh thu đạt 18-19 tỉ USD, đóng góp 6,5 - 7% GDP của cả nước.
Nhưng
trên nền tảng ấy, chúng ta xây dựng cái gì không phải là chuyện dễ
dàng. Cảnh đẹp cộng với một nền văn hoá phong phú, mới là điều kiện
cần, chứ chưa thể nói là đủ. Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp. Ngoài
những yếu tố nền tảng nói trên, còn rất nhiều yếu tố quyết định sự
thành bại, đó là phương thức kinh doanh, là môi trường tự nhiên, môi
trường xã hội. Nếu đi đến những quốc gia lân cận như Malaysia, Thái
Lan... người ta thường dùng hai từ "hoàn hảo" khi nói về thái độ nhiệt
tình phục vụ.
Những câu chuyện như khách du lịch quên điện
thoại trên taxi, quên hành lý tại sân bay, nhưng sau đó, được người ta
hoàn trả đến tận tay là chuyện khá phổ biến ở một số nước, nhất là
những nước châu Âu. Đó là cả một cộng đồng thân thiện với du khách.
Nhưng khó có thể tìm câu chuyện tương tự như thế ở Việt Nam.
Đến
giờ, quan niệm "chín tháng mài dao, ba tháng chém", là quan niệm hiển
nhiên của nhiều người làm du lịch, nhất là du lịch có tính mùa vụ ở các
bãi biển miền Bắc và du lịch lễ hội đầu năm. Cứ đến những dịp cao điểm,
giá cả dịch vụ cứ bị đội lên tăng vọt.
Thời điểm vịnh Hạ Long
mới công nhận là Kỳ quan thế giới, giá thuê phòng khách sạn đã tăng tới
mức không thể chấp nhận. Thậm chí, cuối tuần, "thượng đế" phải chi tới
1 triệu đồng/ 1 phòng đôi. Không có yếu tố "đầu vào" nào khiến dịch vụ
tăng giá. Yếu tố tăng giá duy nhất là do các ông chủ lợi dụng lượng
khách đổ về quá đông. Điệp khúc "cháy" phòng, "cháy" dịch vụ thường
xuyên được đưa ra mỗi kỳ cao điểm, cũng với nguyên nhân kể trên. Chẳng
còn phải bàn cãi về ấn tượng của khách du lịch trước kiểu làm ăn này.
"Chặt
chém" là nỗi lo thường trực khi đi du lịch. Chuyện những bát phở trăm
ngàn, con gà tiền triệu xuất hiện nhan nhản trên thông tin báo chí.
Nhưng
chuyện "chặt chém" không phải hoàn toàn do tự phát. Trong nhiều trường
hợp, nó có tổ chức hẳn hoi. Khi đoàn khách du lịch mua hàng tại một cửa
hàng dịch vụ nào, hướng dẫn viên luôn được chi phần trăm. Đã nhiều du
khách phàn nàn họ chứng kiến tận mắt hướng dẫn viên nhận tiền phần trăm
của phía cửa hàng dịch vụ. Đến người chậm hiểu nhất, cũng nhận ra,
khoản tiền đó đánh vào túi người đi du lịch. Một vị khách khó lòng ngợi
khen về Hà Nội, nếu anh ta bị những hàng rong đeo bám khi đi tham quan
phố cổ. Rất có thể anh ta còn là nạn nhân của "chặt chém" của những
quán hàng.
Kiểu làm ăn chụp giật còn diễn ra trong việc thực
hiện hợp đồng tour du lịch. Khi quảng bá thì nói một đàng, thực tế diễn
ra một nẻo. Nhiều công ty du lịch cố tình thay đổi thực đơn, phòng
khách sạn, cắt bỏ những điểm tham quan có thu phí, rồi “ép” khách du
lịch vào hết điểm mua sắm này đến cửa hàng khác... Việc trọng khách
ngoại, coi thường khách nội cũng khá phổ biến, khiến người đi du lịch
dễ bị ức chế.
Môi trường tự nhiên tại khu du lịch cũng là một
biểu hiện của nét đẹp văn hoá. Khi đi đến bãi biển Pattaya của Thái
Lan, có người Việt Nam đã đem cát ở bãi biển về làm kỷ niệm, vì nó quá
sạch. Còn ở Việt Nam, đã nhiều khách du lịch bắt đầu quay lưng lại với
kỳ quan thế giới Vịnh Hạ Long, với những lời phàn nàn về sự ô nhiễm
đang tăng lên. Nhiều bãi biển, nhiều di tích lịch sử văn hoá cũng bị xả
rác bừa bãi, gây mất mỹ quan.
Dự thảo "Chiến lược phát triển du
lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030" của Tổng cục Du lịch
nhấn mạnh đến chinh phục những mục tiêu. Nhưng thiếu những giải pháp để
xây dựng một môi trường văn hoá kinh doanh một cách bền vững.
Có
thể chưa hoàn toàn thuyết phục, và thực sự khách quan nhưng bài báo:
"Tại sao tôi không bao giờ trở lại Việt Nam?" của Matt Kepnes đăng trên
tờ Huffington Post, tờ báo điện tử hàng đầu của Mỹ, trong những ngày
đầu năm phần nào cho thấy văn hoá kinh doanh du lịch tại Việt Nam đáng
được nhìn nhận lại. Tác giả bài báo nói rằng, anh ta đã bị người bán
hàng rong chèo kéo ở Hội An, bị bỏ khát và buộc phải ở chung phòng với
người lạ trên thuyền thăm vịnh Hạ Long, bị chặt chém khi mua hàng ở TP.
Hồ Chí Minh, gặp phải ăn xin giả, bị tính cước taxi quá cao… Dẫu rằng,
tác giả bài viết này đến Việt Nam từ năm 2007, đến nay, ít nhiều đã có
sự thay đổi, nhưng có thể coi đây là lời cảnh báo đối với văn hoá kinh
doanh du lịch của Việt Nam.
Dẫu vậy, bước đầu chúng ta cũng đã có
những "điểm sáng" trong ứng xử. Có du khách Đan Mạch kể lại rằng, anh
ta lấy làm lạ khi đến khu phố phục vụ khách Tây ở Hội An (Quảng Nam) là
không phải thích vào hàng nào thì vào. Khi anh chân ghé vào một hàng và
đã được chủ hàng nhã nhặn mời sang quầy bên cạnh, dù rằng quầy của anh
ta rõ ràng vẫn còn đồ ăn. Sau đó, anh đã biết rằng tất cả những người
bán hàng trong khu vực này đã có một thỏa thuận về đón tiếp thực khách.
Một “điều phối viên” tay cầm sổ và bút chì sẽ hướng dẫn tốp khách thứ
nhất vào quầy 1, tốp thứ 2 sẽ được lịch sự mời sang quầy thứ 2. Và cứ
tương tự như vậy, tính từ hai đầu vào giữa. Bất luận đó là một tốp
khách dăm bảy người hay chỉ một khách độc hành, thỏa thuận vẫn được tôn
trọng. Điều này khiến anh thấy hết sức thú vị.
Gần đây, khi Công
ty Du lịch Lanta của Nga bị phá sản, hơn 8000 du khách của Lanta bị kẹt
lại ở nhiều nước trên thế giới. Trong khi không ít du khách của Lanta
tại một số nước bị doạ đuổi ra khỏi khách sạn nếu không thanh toán dịch
vụ thì các resort, khách sạn của Việt Nam không làm vậy. Cả Hiệp hội Du
lịch Bình Thuận, Sở VHTTDL Bình Thuận, UBND tỉnh Bình Thuận đều nhanh
chóng vào cuộc, liên lạc với Lãnh sự quán Nga tại TP. Hồ Chí Minh để
cùng phối hợp giải quyết vụ việc. Các resort cam kết không giữ hộ chiếu
của khách, tạo mọi điều kiện để khách về nước nếu có nhu cầu. Chính phủ
Nga đã bày tỏ lời cảm ơn tới các cơ quan hữu trách Việt Nam về sự trách
nhiệm, hữu nghị và thân thiện đó.
Ở nhiều quốc gia, để đảm bảo
môi trường du lịch lành mạnh, người ta bố trí lực lượng cảnh sát du
lịch. Hiện ở nước ta, khách du lịch chủ yếu vẫn phải xoay xở một mình.
Song, ai cũng hiểu, những nụ cười thân thiện của đôi bên sẽ hấp dẫn
hơn, thay vì sự hiện diện của những cảnh sát để giải quyết va chạm giữa
khách và những người làm dịch vụ. Không những khó hút khách quốc tế, du
lịch Việt cũng có thể mất khách nội địa.
Nếu không hài lòng với
dịch vụ trong nước, người ta có thể dễ dàng chọn du lịch ở những nước
trong khu vực, với giả cả phải chăng, dịch vụ tốt. Không phải cứ có
thắng cảnh đẹp là có thể bán vé tham quan. Thái độ phục vụ chuyên
nghiệp, và hơn thế là xây dựng một môi trường văn hoá lành mạnh, sẽ
"ghi điểm" cho du lịch Việt, trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay
gắt.
NDO |